Hóa chất sinh học phân tử - Hóa Chất Thí Nghiệm

Hóa chất sinh học phân tử

Hits: 673

hoa-chat-sinh-hoc-phan-tu

Hóa chất sinh học phân tử là gì?

Xem giá hóa chất sinh học phân tử

Hóa chất sinh học phân tử phục vụ cho những nghiên cứu cấp độ phân tử. Ngành sinh học phân tử là sự kết hợp giữa di truyền học và sinh hóa học. Sinh học phân tử tìm hiểu mỗi quan hệ phức tạp bên trong tế bào, bao gồm mối liên hệ và tương tác giữa các phân tử DNA, RNA, quá trình sinh tổng hợp Protein cũng như cơ chế điều hòa những mối tương tác này. Ngành sinh học phân từ có thể cho ra các ứng dụng các lĩnh vực nông nghiệp, dược phẩm, y tế, môi trường, thực phẩm, phân bón…

Hóa chất sinh học phân tử bao gồm những gì?

Các dNTPs, Enzyme, chất kháng sinh,các loại Taq DNA, thuốc nhuộm, các enzyme giới hạn, các loại buffer, agarose, các ion kim loại như Mg2+, Ca2+,

Các hóa chất sinh học phân tử sử dụng trong những lĩnh vực như:

PCR, điện di, notthern blotting, southern blotting, Western blotting, Eastern blotting, microarray, Allele-specific oligonucleotid

1. PCR( Polymerase Chain Reaction)

PCR là một kỹ thuật cực kỳ linh hoạt để sao chép DNA. Tóm lại, PCR cho phép một chuỗi DNA cụ thể được sao chép hoặc sửa đổi theo những cách xác định trước. Phản ứng cực kỳ mạnh mẽ và trong điều kiện hoàn hảo có thể khuếch đại một phân tử ADN trở thành 1,07 tỷ phân tử trong vòng chưa đầy hai giờ. Kỹ thuật PCR có thể đưa các enzyme giới hạn tới các đầu của các phân tử DNA, hoặc để biến đổi các bazơ đặc biệt của DNA, sau đó là một phương pháp gọi là sự biến dị điểm( site-directed mutagenesis). PCR cũng có thể được sử dụng để xác định liệu một đoạn DNA cụ thể có trong một thư viện cDNA. PCR có nhiều biến thể, như PCR phiên mã ngược (RT-PCR) để khuếch đại RNA, và, gần đây nhất, PCR định lượng cho phép đo đạc định lượng các phân tử DNA hoặc RNA.

2. Điện di Gel( Gel electrophoresis)

2% Agarose Gel trong Borate Buffer đúc trong một khay Gel (mặt trước, góc cạnh)
Gel điện di là một trong những công cụ chính của sinh học phân tử. Nguyên tắc cơ bản là DNA, RNA, và protein có thể được tách ra dựa trên trường điện và kích cỡ của chúng. Trong quá trình điện di agarose gel, DNA và RNA có thể được tách ra trên cơ sở kích thước bằng cách chạy DNA thông qua một gel agarose tích điện. Protein có thể được phân tách dựa trên kích thước bằng cách sử dụng gel SDS-PAGE, hoặc dựa trên kích thước và điện tích của chúng bằng cách sử dụng công nghệ điện di gel 2D.

3. Macromolecule blotting và probe

a. Southern blotting

Southern blot được đặt tên theo nhà khoa học Edward M. Southern vì đã phát minh ra kỹ thuật này. Southern blot  là quá trình chuyển các phân tử DNA từ gel agarose lên một màng và nhờ đó giúp các nhà nghiên cứu định vị trình tự DNA bên trong một hỗn hợp phức tạp. Ví dụ: Southern Blot có thể được sử dụng để xác định vị trí một gen cụ thể trong toàn bộ hệ gen.Lượng DNA cần thiết cho kỹ thuật này phụ thuộc vào kích thước và hoạt động đặc hiệu của mẫu dò (probe). Các mẫu dò ngắn thường đặc hiệu hơn. Dưới những điều kiện tối ưu, có thể xác định được 0.1 pg DNA trong toàn quá trình.

b. Nothern blotting
Phương pháp lai Northern blot là phương pháp áp dụng cho RNA, lai DNA-RNA hoặc RNA-RNA. Phương pháp này được sử dụng để xác định kích thước và hàm lượng của một mRNA đặc trưng trong một hỗn hợp RNA. Kỹ thuật lai này được phát triển vào năm 1977 bởi James Alwine, David Kemp, và George Stark tại Đại học Stanford

c. Ngoài ra còn có Western blotting và Eastern blotting 

d. DNA microarray

DNA microarray (DNA chip hoặc chip sinh học) là một tập hợp các điểm DNA siêu nhỏ được gắn trên một giá thể rắn. Các nhà khoa học sử dụng DNA microarray để đo một cách đồng thời mức độ biểu hiện của lượng lớn gen hoặc các vùng đa gen của hệ gen. Mỗi điểm DNA chứa hàng picomoles (10-12 moles) của một trình tự gen đặc hiệu, được biết đến như các mẫu dò (probes hoặc reporters hay oligos). Chúng có thể là một đoạn ngắn của một gen hoặc một yếu tố ADN khác, được sử dụng để lai với một ADNc hoặc ARNc (hay ARN anti-sense) (được gọi là đích) dưới điều kiện nghiêm ngặt. Sự lai mẫu dò – đích thường được phát hiện và định lượng bởi các chất đánh dấu huỳnh quang (fluorophore-labeled), bạc (silver-labeled) hoặc sự phát quang bằng phản ứng hóa học (chemiluminescence-labeled) để xác định mức độ lặp lại của các trình tự acid nucleic trong đích.

Thông tin liên hệ: 

SBC Scientific
Hotline: 0945677929
Email: info@sbc-vietnam.com

Facebook Comments

3 Replies to “Hóa chất sinh học phân tử”

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *